Lan Hài được chia thành 2 nhóm: nhóm lá có gân nổi như vân cẩm thạch thích khí hậu ôn hòa; nhón có lá trơn thích vùng nóng ẩm. Chúng cho hoa với các kích cỡ khác nhau, từ bông nhỏ đường kính 5 cm đến những bông lớn hơn 20 cm. Tất cả đều có cuống dài và mập mạp. Lan Hài là loài hoa lí tưởng để trồng trong vườn nhà, trổ hoa hàng năm với số lượng bông ngày càng tăng. Hoa ưa nhiệt độ nóng ẩm. Cần tưới ẩm cây ít nhất 1 lần 1 ngày trong mùa hè nhưng tuyệt đôi không để nước đọng lại nơi gốc và rễ cây qua đêm, chúng sẽ thối mục với tốc độ ánh sáng.

1. Về ánh sáng
Paphiopedilums thích ánh sáng nhưng cũng chịu được bóng râm suốt mùa ươm trồng. Bạn cũng không nên phơi chúng cả ngày dưới nắng để tránh bị cháy sém. Và luôn nhớ ưu tiên lan Hài một vị trí đủ ánh sáng trong mùa đông.

2. Về nước tưới
Lan Hài cần độ ẩm đều và liên tục nhưng không thể chịu nỗi tình trạng ướt sũng một phút nào. Người đẹp này khó tính và cần bạn quan tâm chăm sóc hơn các loài hoa khác. Có thể tưới 1 tuần một lần hoặc nhiều hơn nếu trời nóng bức và cây có dấu hiệu khô.




3. Về phân bón
Không cần phải bón phân nhiều cho Paphiopedilums, chỉ cung cấp NPK cho cây 4 – 6 tuần 1 lần trong mùa đông và 2 tuần 1 lần khi vào hè.

4. Về giá thể (chậu trồng)
Vào đầu xuân hàng năm cần thay chậu và phân nhánh cho lan Hài để kích thích cây ra chồi mới. Chậu cây để lâu ngày sẽ tích mùn và rêu mốc – nguyên nhân làm nước ứ đọng trong chậu. Bạn thay mới hỗn hợp vỏ cây, than củi, xơ dừa để sự thoát nước cho rễ cây được đảm bảo.

5. Thời gian ra hoa
Hầu hết lan Hài cho hoa vào mùa Đông và Xuân. Chúng thường bắt đầu với chỉ một bông trên cành hoa mập mạp và khỏe khoắn, vài bông hoa khác sẽ nối tiếp nhau xuất hiện trong 1 vài … tuần sau và có thể kéo dài vài ba tháng.
Cây mai vàng được trồng rất phổ biến ở Nam bộ. Đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long hầu như nhà nào cũng có trồng một vài cây mai vàng ở trước sân để có hoa đẹp đón chào năm mới và điểm trang cho những ngày tết thêm tươi vui, lộng lẫy. Mai vàng là biểu tượng của mùa Xuân ở các tỉnh phía Nam, là niềm tin cho sự may mắn do vậy mai vàng còn được nhiều hộ dân và một số địa phương phát triển thành những vườn chuyên canh rộng lớn, thậm chí còn hình thành cả những làng chuyên trồng mai. Chính vì những lý do đó mà mọi người trồng mai vàng đều quan tâm và thích thú là được nhìn thấy những cây mai nhà mình ra nhiều hoa và đúng vào dịp Tết. Còn về góc độ kinh tế thì chỉ có những cây mai có nhiều hoa và ra hoa đúng Tết mới có nhiều cơ may bán được giá. Tuy kỹ thuật trồng và chăm sóc mai vàng không quá cầu kỳ, nhưng để cho mai nở hoa nhiều, đẹp và đúng vào dịp Tết thì đòi hỏi người trồng cũng cần phải nắm được một số yêu cầu cơ bản.

1. Về chuẩn bị đất
Với những vùng đất thấp cần lên líp rộng 1 – 1,2m, có rãnh thoát nước để mai không bị úng ngập khi mưa hay nước ngầm dâng cao làm thối rễ mai. Xới đất cho tơi xốp, nhặt hết cỏ dại và gạch đá.

2. Về phân bón
– Bón lót: Bón phân bò, tro trấu với lượng 3-5kg hay phân hữu cơ Đầu Trâu với lượng 0,3 – 0,5 kg cho mỗi hố trồng. Nếu trồng mai trong chậu cần trộn đất với phân theo tỷ lệ 3 – 4 phần đất, 1 phần phân hữu cơ. Rải một phần phân hữu cơ xuống hố, đặt cây, rải tiếp phân hữu cơ quanh gốc rồi lấp đất, lèn chặt.

– Bón phân thúc: Sau trồng 15 – 20 ngày, rễ mai đã ăn ra lớp đất mới, cần tưới phân thúc bằng cách hòa 15 – 25gam phân NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu/10 lít nước tưới vào gốc nhằm thúc cho bộ rễ mai phát triển mạnh ngay từ đầu. Bón thúc bằng cách rải phân NPK 20-20-15+TE hoặc NPK 13-13-13 Đầu Trâu quanh gốc với lượng 20 – 30 gam/cây, định kỳ 25 – 30 ngày/lần. Kết hợp xới đất để vùi lấp phân nhằm giảm bớt thất thoát phân do bay hơi, rửa trôi. Phun phân bón lá Đầu Trâu 501 định kỳ 7 – 10 ngày/lần. Sau 3 – 4 tháng từ khi trồng, bón 0,5 – 0,1 kg phân hữu cơ/cây. Cuối tháng 10 âm lịch cần giảm lượng phân và nước tưới để hạn chế tăng trưởng thân lá, chuẩn bị cho giai đoạn phân hóa mầm hoa. Phun phân bón lá Đầu Trâu 701 định kỳ 7 – 10 ngày/lần nhằm kích thích mai phân hóa mầm hoa tốt.

3. Yêu cầu nước tưới
Mùa nắng nên tưới hàng ngày để đất đủ ẩm, mùa mưa cần đảm bảo tiêu thoát nước tốt và chỉ tưới khi đất khô. Mai trồng trong chậu bốc thoát hơi nước nhanh nên cần tưới nhiều lần hơn so với mai trồng trong đất. Chỉ tưới vào sáng sớm hay chiều mát, không nên tưới quá đẫm vào chiều tối vì dễ phát sinh sâu bệnh do độ ẩm quá cao vào ban đêm.

4. Kỹ thuật xử lý để mai vàng ra hoa đúng tết
Việc để mai nở rộ, đồng loạt đúng tết cần áp dụng đồng bộ các giải pháp về: Bón phân; Xiết nước; Tuốt lá.
– Bắt đầu từ đầu tháng 10 âm lịch hạn chế bón các loại phân có hàm lượng đạm (N) cao. Từ giữa đến cuối tháng 11 âm lịch, dừng bón phân vào gốc và hạn chế tưới nước để chuẩn bị tuốt lá. Từ 7 – 10 tháng Chạp, nếu thấy mai sung sức, đã có nụ lớn thời tiết dự báo nắng ấm thì mai sẽ nở sớm, do vậy đối với mai 5 cánh cần tuốt lá vào khoảng 18 – 20 tháng Chạp.




– Ngược lại nếu cây mai không sung sức, mới xuất hiện nụ nhỏ, dự báo rét kéo dài thì phải tuốt lá khoảng ngày 13 – 16 tháng Chạp. Đối với mai nhiều cánh cần tuốt lá sớm hơn so với mai 5 cánh từ 4 – 6 ngày. Trước khi tuốt lá cần ngừng tưới nước 2 – 3 ngày để lá bắt đầu đanh lại, gân lá nổi lên thì tuốt lá, đồng thời tưới lại thật đẫm và phun phân bón lá Đầu Trâu 701. Đúng “tết ông Táo”, nếu thấy hoa cái bung vỏ lụa là chắc chắn hoa nở đúng tết; Nếu hoa cái chưa bung vỏ lụa là mai nở muộn nên cần xiết nước (ngưng tưới), đem phơi ngoài nắng (nếu trồng chậu) sau vài ngày thì tưới thật đẫm trở lại bằng nước ấm (45 – 50oC) đồng thời phun phân bón lá Đầu Trâu 901 để kích thích mai nở sớm cho đúng tết.

– Nếu hoa cái đã bung vỏ lụa trước “tết Ông Táo” thì mai sẽ nở trước tết nên cần phải hòa 10 – 20 gam phân urea/10 lít nước để tưới. Đồng thời cần tưới bằng nước lạnh (có thể cho một ít nước đá vào) và dùng lưới bạt che nắng để hãm mai nhằm giúp hoa nở đúng tết. Đối với những năm nhuận, thường mai sẽ nở sớm hơn nên cần kéo dài thời gian bón phân thúc và tưới nước so với những năm thường để thời gian tăng trưởng thân lá lâu hơn, giúp mai nở đúng tết. Việc tuốt lá, phun phân bón lá cũng theo nguyên tắc trên. Từ cuối tháng 11, nếu có mưa bất thường thì mai sẽ nở sớm do đó cần chủ động nắm bắt dự báo để có thể làm dàn che hay phủ nilon che gốc để tránh mưa.
Cây đinh lăng gồm nhiều loại phân biệt bởi hình dạng và kích thước lá, nhưng cây đinh lăng lá có lá nhuyễn hay còn gọi lá cây gỏi cá được trồng nhiều do lá cây được dùng như một loại rau sạch có vị thuốc tốt cho sức khỏe. Chúng ta nên trồng vài chậu cây đinh lăng tại nhà,vừa làm cây cảnh vừa có thể hái lá ăn như rau sống.

Cây đinh lăng lá nhuyễn vừa dễ trồng vừa ít tốn công chăm sóc do cây có thể chịu hạn và thích hợp với nhiều loại đất trồng cây, miễn đảm bảo thoát nước tốt.
 
 

Chọn đất và chậu trồng cây

Đất trồng cây đinh lăng có thể trộn hổn hợp đất thịt tự nhiên hay đất pha cát và phân hữu cơ hoai mục cùng ít trấu sống theo tỷ lệ 2:1: 0,5 hay dùng đất sạch ngoài thị trường có đóng bao sẵn trộn thêm đất dinh dưỡng phân trùn quế theo tỷ lệ 2:1.
Chọn chậu để trồng cây đinh lăng lá nhuyễn có kích thước khoảng cao 40 cm, đường kính 35-40 cm, nếu sau này cây lớn thì có thể sang chậu lớn hơn.

Chậu trồng cây đinh lăng tại nhà nên chọn chậu sành để giữ bộ rễ cây phát triển tốt nhất, vì rễ cây đinh lăng cũng là vị thuốc rất tốt. Nhớ kê đáy chậu sau khi trồng cây để nước tưới thoát tốt.

2. Nhân giống cây đinh lăng lá nhuyễn

Cây đinh lăng có thể trồng bằng cách giâm cành và trồng quanh năm, nhưng tốt nhất nên trồng mùa nắng để cành giâm không bị thối úng.

Chọn cây có thân nhánh có kích thước khoảng 1,5 – 2cm, cắt nhánh thân thành từng đoạn ngắn ( hom giống) khoảng 18-20 cm bằng dao bén, tỉa bớt lá để hạn chế thoát nước, chấm gốc hom giống vào thuốc kích thích ra rễ như Atonik, NAA, N3M, Root… sau đó ghim hom giống sâu 5-7 cm nghiêng góc 30 độ vào khay hay chậu có lớp đất hay giá thể tơi xốp dầy khoảng 15-18 cm, dùng 4 ngón tay ấn xung quanh gốc ghim giúp cố định.Tưới nước đủ ẩm bằng vòi nước nhẹ.
Nhớ để hom giống sau khi giâm cành vào nơi thoáng râm mát hay dưới lưới lan.Tránh làm xê dịch hom sau khi ghim để cành giâm mau ra rễ. Ngày tưới nước nhẹ hai lần.

Sau thời gian 25-30 ngày thì lá non bắt đầu nhú ra là hom giống đã ra rễ, khi thấy ra nhiều lá mới dài được 10 cm thì nhổ đem ra trồng trong chậu ( thời gian 50-60 ngày sau khi giâm cành).

3. Bón phân và tưới nước


Cành giâm sau khi ra rễ được đem trồng vào chậu
Khi mới trồng cây con vào chậu thì tưới nước đầy đủ để cây mau phục hồi và phát triển tán lá.

Cây đinh lăng có thể trồng nơi có đầy đủ ánh sáng hay chỉ một phần chiếu sáng, nên thích hợp đặt chậu trồng cây ở sân thượng.

Khi cây đinh lăng đã lớn nhiều cành nhánh thì có thể tưới một ngày một lần trong mùa nắng, mùa mưa tưới cách ngày.

Vì cây trồng tại nhà để hái lá non dùng làm rau sạch nên chỉ bón phân trùn quế vào gốc một lớp 2-3 cm khi thấy rễ cây mọc nhô lên trên, hay hai tháng bón phân một lần, không cần dùng phân hóa học bón cho cây.

4. Phòng trừ sâu bệnh và vị thuốc

Cây đinh lăng lá nhuyễn ít khi bị sâu bệnh tấn công, trường hợp thấy có sâu ăn lá thì nên bắt bằng tay vào chiều tối hay sáng sớm.Do cây trồng tại nhà nên hạn chế không dùng thuốc BVTV.Trường hợp có mưa to kéo dài cần kiểm tra cây có bị ứ nước không vì rễ cây khá nhạy cảm khi bị úng nước.

Cây đinh lăng có thể sống rất lâu khoảng vài chục năm, cây càng lâu năm thì có bộ rễ càng quý ví như một loại nhân sâm có vị thuốc tốt, có thể dùng rễ cây đinh lăng để ngâm rượu để phòng và chữa nhiều loại bệnh.

Riêng lá cây đinh lăng lá nhuyễn trồng được 2-3 năm tuổi thì dùng để ăn như rau sạch hay chế biến thành vị thuốc mới có tác dụng.
Bơ là một loại hoa quả rất bổ dưỡng và được nhiều người ưa thích. Nhất là khi ăn cùng sữa và bánh pudding sẽ khiến cho nó càng mỹ vị hơn. Các nghiên cứu tại Mỹ khẳng định rằng ăn bơ có thể bổ sung lượng axit béo mà lớp da biểu bì cần thiết, đạt được dưỡng ẩm tránh mất nước!



Các sản phẩm chăm sóc da nguồn gốc từ dầu quả bơ có thể nhanh chóng thẩm thấu vào da và kích thích sự sản xuất collagen. Nhưng nhiều người không biết rằng bạn có thể tự trồng cây bơ ngay tại nhà mình, hơn nữa chỉ cần trong một bồn nhỏ. Thật tuyệt vời có phải không, hãy cùng xem làm thế nào để trồng nó nhé!
Chỉ cần có hạt quả bơ và tăm tre, một cốc thủy tinh, bạn có thể dễ dàng trồng một cây bơ hấp dẫn. Dưới đây là phương pháp trồng:

1. Cắt quả bơ ra, hãy nhớ đừng cắt chạm vào phần hạt giống, cũng đừng để phần thịt của quả bơ còn lưu lại trên hạt.


2. Dựng hạt bơ đứng lên rồi dùng những chiếc tăm chèn vào mặt xung quanh và đặt vào trong một cốc nước đầy, nước chỉ cần ngập một nửa hạt.



3. Duy trì lượng nước, mỗi ngày thay nước để gieo hạt. Sau một vài ngày hoặc vài tuần sau đó, hạt giống sẽ bắt đầu nứt và nảy mầm. Khoảng một tháng sau sẽ mọc thành cây.
Thời gian hạt bơ nảy mầm thường dài hơn, vì vậy bạn hãy cố gắng kiên nhẫn. Bơ là một loại cây trồng tốt dễ trồng và phát triển rất nhanh. Sau khi cây bơ đã phát triển lên có thể chuyển sang một chiếc chậu để trồng. Tuy bơ rất dễ mọc và lớn lên, nhưng bạn cần ít nhất 4 năm chăm sóc trước khi nó có thể cho bạn trái bơ đầu tiên. Hãy kiên nhẫn!



Bơ còn được ghi vào sách kỷ lục thế giới Guinness như một loại trái cây bổ dưỡng nhất! Ngoài hiệu quả giúp làm đẹp da, nó còn khiến cho ngực căng và đàn hồi hơn.


Bạn hãy nhanh tay thử nhé!
Lợi dụng vào điểm yếu của những ai mới tập chơi, hiểu biết của người chơi chưa sâu trong việc xác định chất lượng cá rồng để nâng giá bán cao ngất ngưởng từ những chú cá tầm thường. Thậm chí các nhà kinh doanh xử dụng nhiều chiêu trò nhầm đánh lạc hướng người chơi qua việc lai tạo để thu lợi bằng cách khoác lên mình những chú cá rồng tạm thời những mạo nhận của người chơi thiếu kinh nghiệm,… Dưới đây xin giới thiệu cùng đọc giả thủ thuật nâng giá bán cá rồng của nhiều nhà kinh doanh để người chơi tránh thiệt hại không đáng có.

1. Bán cá lai với giá cá xịn
Sử dụng cá lai tạo nhằm đánh lừa người chơi qua hình dáng bên ngoài. Thường cá được bán ở giai đoạn cá nhỏ (càng nhỏ càng tốt) vì lúc này người chơi gần như chưa phân biệt được cá gốc hay cá lai. Trên thực tế, một chuyên gia cũng không thể chỉ ra điểm khác biệt trừ phi đã biết về nguồn gốc cá. Một số ví dụ phổ biến như quá bối X thanh long, và quá bối X hồng vĩ được bán như là… quá bối. Những con cá lai này không bao giờ đạt màu sắc của quá bối khi trưởng thành nhưng khi còn non, chúng có thể khiến những chuyên gia cũng phải nhầm lẫn. Trên đây là những phương pháp kích màu gian trá mà chúng ít nhiều đều độc ác và có hại cho sức khỏe của cá rồng. Để “thúc đẩy” tiềm năng màu sắc của cá bộc lộ hết mà không làm hại chúng, những loại thức ăn tự nhiên như tép và tép krill, vốn giàu astaxanthin và carotene, nên được sử dụng.



2. Sử dụng chất kích màu
Phương pháp này nhắm vào màu sắc của lớp vảy và bộ vây nhằm gia tăng lớp màu ánh kim một cách tạm thời. Phương pháp kích màu này khiến lớp vảy cá rồng có bề ngoài rất hấp dẫn và tự nhiên. Tuy nhiên, màu sẽ bị phai dần sau từ 4 – 6 tháng. Điều này khiến người chơi tưởng rằng cách nuôi dưỡng của mình không phù hợp làm cho cá bị mất màu.

3. Phơi nắng
Phương pháp này rất hiệu quả đối với huyết long và thanh hồng (yellowtail). Khi phơi nắng, màu của cá sẫm lại vì sắc tố được cải thiện. Với màu sẫm, chúng tương tự như cá rồng hảo hạng và được bán với giá tương đương. Tuy nhiên, khi cá được chuyển vào nuôi trong nhà và không có ánh nắng, màu của nó sẽ phai dần.

4. Bỏ đói
Phương pháp này chỉ cung cấp vừa đủ thức ăn để cá khỏi chết đói. Nó hạn chế tối đa sự tăng trưởng của cá nhằm đạt được màu sắc đậm và nổi bật hơn so với cá phát triển bình thường. Nhiều người đoán độ tuổi của cá qua kích thước bởi vì không còn dấu hiệu nhận biết cụ thể nào khác. Phương pháp này khiến người chơi tin rằng những con cá đẹt có chất lượng hảo hạng vì màu sắc đậm và nổi bật khi còn “rất non”. Những con cá như thế này thường có bề ngoài tệ hại chẳng hạn như mắt to và bụng tóp với thân hình thiếu cân đối khiến dáng bơi xấu xí.

5. Làm mù mắt có chủ đích
Đây là phương pháp độc ác nhất, mới xuất hiện gần đây. Cá mù chỉ thấy toàn bóng tối và bản năng biến màu tự nhiên khiến cho màu sắc của chúng trở nên đậm và nổi bật một cách nhanh chóng. Người chơi cá thiếu kinh nghiệm thường không có khả năng phát hiện cá đã bị mù bởi vì đây là cách lừa đảo tinh xảo.

6. Sử dụng hormon
Phương pháp này thường được áp dụng với cá non từ 10 – 18cm vì cá trưởng thành với lớp vảy dày hơn sẽ ngăn cản màu sắc của lớp da bên dưới. Thông thường, thanh hồng (yellowtail) được kích bằng hormon lên màu đỏ và bán như là huyết long non.
Bonsai là một cây cảnh đẹp để trong nhà hoặc ngoài sân, nhưng ý nghĩa sâu xa và cũng là cái thú của người chơi đó là tạo cho nó những kiểu dáng đẹp mắt và mang một ý nghĩa nào đó. Dưới đây là các thế bonsai được nhiều người yêu thích.

1. Thế quần thụ tam sơn
– Là 3 cây kiểng nằm chung trong một chậu to. Còn gọi là tam tài, 3 cây kiểng trực thọ đứng gần ngay hàng, cây cao chính giữa, 2 cây thấp hơn ở hai bên, nhưng có thể so le một tý, cây to có 5 tàn, 2 cây lùn chỉ cần ba tàn, có thể giao cành với nhau, làm thế nào để 3 cây cân đối mới đẹp và 3 cây cũng liên kết với nhau, nếu thiếu một trong 3 cây là mất hết vẻ đẹp. Cho nên thế tam sơn biểu tượng cho sự đòan kết:
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây dụm lại thành hòn núi cao”.



– Thế tam sơn nên uốn với cây tùng, cây bách, xếp thành hình chữ sơn là núi rất đẹp.

2. Thế ngũ nhạc
Thế này trồng bằng 5 cây kiểng trong một cái chậu hay cái khay to làm cảnh núi rừng, mỗi cây có một dáng riêng biệt có thể đứng hết, hoặc cây đứng cây xiêu, cây nằm, nhưng phải có lớn có nhỏ như sơn thủy mới đẹp. Cũng có thể xếp hình chữ ngũ. Xếp “ngũ lão giản đình” năm ông già đàm đạo phải xếp vòng tròn nhưng xếp thể rừng là đẹp nhất. Thân cành nhánh phải hài hòa, làm sao có tính cách giao chi, hỗ tương với nhau, nếu thiếu một cây thì thấy không đẹp. Thế ngũ nhạc cũng uốn bằng năm cây cùng một loại như mai chiếu thủy, tùng, cần thăng, kin quýt, đều đẹp.



3. Thế lưỡng long tranh châu
– Thế này phải uốn với song thọ trồng chung vào một chậu, uốn đối xứng thành hai con rồng uốn khúc, giao đầu tranh hạt minh châu nằm ở giữa, là thế kiểng cổ thường thấy uốn với hai cây mai chiếu thủy hay cần thăng kim quýt, ngày nay thường uốn với cùm nụm rô nhanh chóng hơn với nòng bằng kẽm, trồng cây lên tới đâu, gài vô tới đó vài ba năm là thành, thân hai con rồng uốn khúc, đấu đầu lại nhìn quả châu, các nhánh làm chân và mây, đuôi ngẩng lên xòe ra như múa rất đẹp. Nếu uốn với hai cây mai chiếu thủy thì rất quý.



– Thế này còn nhân ra “sư tử hí cầu” là hai con sư tử giỡn với quả cầu, cũng là hai cây uốn đối xứng với quả cầu rất đẹp. Cũng như thế (loan phụng hòa mình), hai con loan và phượng múa quấn quýt lấy nhau như cặp uyên ương duyên dáng.

4. Thế long đàn phượng vũ
Thế này bay bướm hơn, có nghĩa là chim phượng hoàng múa trên mình rồng. Đây là thế có thể uốn với một cây, hoặc hai cây trồng chung một chậu. Phải cây cổ thụ gốc to, uốn nằm trên miệng chậu, gốc ngẩng lên làm đầu rồng. Thân uốn cong hạ thấp, các chi xòe ra bốn phía làm chân và mây, ngọn ngã về phía sau làm đuôi rồng, cây thứ hai có hai rễ chẻ ra làm chân phượng, thân ngã ngang qua ôm lấy mình rồng, các cành hậu thân uốn làm đầu và đuôi chim phượng, hai cành tả hữu xòe ra làm hai cánh chim uốn với dáng đang múa, ngọn làm mây. Thế này uốn cho thật dịu dàng mềm mại như phượng đang múa, tàn nhánh xòe ra, trên mình rồng uốn khúc nhịp nhàng. thế chim phượng múa trên lưng rồng là tuyệt đẹp, biểu tượng cho quyền uy của vua chúa, ngày xưa chỉ có ở trong cung đình.



5. Thế long bàn hổ phục
Thế này cũng có thể uốn với một cây kiểng to có hai thân hoặc với 2 cây trồng chung một chậu. Thế long bàn hổ phục có nghĩa là rồng nằm uốn khúc và hổ cũng nằm sát đất chịu khuất phục để chầu chủ nhân. Thế này rất khó uốn, phải có bộ rễ thành hình chân thú nằm xòe ra phía trước, tả thanh long, hữu bách hổ, hai chân hổ chồm ra, hai chân rồng ngấu xuống: cây thanh long, gốc nằm trên mặt chậu, đầu ngẩng lên, thân uốn cong làm mình rồng, cành tả hữu uốn theo lối chiết chi làm mây, hai cành trước sau làm chân xòe móng ra, ngọn hồi đầu làm đuôi, uốn dáng mềm dẻo, uyển chuyển. Cây bên phải, gốc thân bò trườn lên chậu, đầu cúi mọp xuống, các chi tỉa nhỏ ôm lấy thân để trang trí, ngọn vươn lên làm đuôi, tỉa theo tàn chổi nhỏ. Thế long bàn hổ phục có hình dáng nằm chầu khuất phục hiền hòa, nhưng không kém phần uy nghi, biểu tượng cho quyền lực, rất hay rất đẹp.



6. Thế mẫu tử
– Thế mẫu tử (mẹ con) phải có 2 cây cùng một gốc, cây lớn là mẫu, cây nhỏ là tử; cây mẫu cao gấp 3 lần cây tử mới đúng là mẹ con. Cây này phải cổ thụ, bộ rễ xòe ra nổi lên trên mặt chậu, gốc dạng xuy phong phải cỡ 45 độ, cây tử cũng vậy, cây mẫu và cây tử phải xiên cỡ 90 độ mới đẹp, đủ chỗ để phân chi tán cành nhánh ôm lấy cây tử, như mẹ chăm sóc con với dáng vóc trìu mến thương yêu tình cảm thật sự của mẹ đối với con.



– Tán thứ nhất của cây mẫu bẻ ra bên ngoài chừa chỗ cho cây tử mọc lên. Hai cây mẹ con đều uốn theo chiết chi nhị diện, cây tử vươn lên thẳng đứng, hai tàn một ngọn nhỏ. Cây mẫu đến đoạn thứ ba cũng uốn quy căn thẳng đứng, để giữ trọng tâm nằm trong chậu, gọn gàng, cân đối, có 4 tàn 1 ngọn hồi đầu. Tàn của cây mẫu tử lớn hơn tàn cây tử, đều uốn theo tàn hồng nhật tròn đẹp, hoặc tàn hoa rơi xòe ra ôm lấy cây tử, mềm mại duyên dáng, cây tử thì quấn quýt không rời cây mẫu, tả được tình cảm giữa mẹ con, thế này thường là “Tam cang ngũ thường” hay “Tam tùng tứ đức” rất được ưa thích trong bộ ba kiểng cổ ngày xưa. Thường bộ kiểng cổ 3 cây, có 2 cây mẫu tử đối xứng hai bên rất đẹp. Nếu cây tử không phải cùng chung một gốc với cây mẫu, mới tháp vào thì gọi là “Minh linh dưỡng tử” xem như là con nuôi vậy.
Nước đối với cá rồng, cũng như không khí đối với người. Một môi trường nước có độ pH thích hợp, trong sạch luôn đảm bảo cho những chú cá rồng mạnh khoẻ, thoả sức giương hùng trong thế giới loài cá cảnh khác.

– Cá rồng thích loại nước hơi mềm độ pH giao động trong khoảng 6,5 – 7, với chất nước này sẽ làm cá rồng phát triển màu nhanh và rực rỡ hơn. Theo kinh nghiệm của người nuôi trong quá trình quản lý nguồn nước cho cá rồng thường sử dụng kết hợp với lá bàng khô. Rất tốt nếu ta trộn nước lá bàng để tạo thành màu nước hơi màu trà tương tự màu nước từ thiên nhiên nơi cá thường sinh sống. Đồng thời nước lá bàng cũng gia tăng thêm lượng acid humic cho cá phát triển và giúp cá bình tĩnh hơn.



– Độ pH trong bể cá cũng như các yếu tố khác không phải tại thời điểm nào cũng như nhau mà chúng luôn có biến đổi. Sự biến đổi của các yếu tố có nhiều nguyên nhân tác động khác nhau. Vì vậy ta luôn kiểm tra độ pH ít nhất mỗi tuần hoặc 2 lần tuần. Độ pH không thích hợp có thể làm giảm khả năng miễn nhiễm của cá rồng vì cá không thể thích nghi với độ pH quá khác biệt. Cũng giống như các loài cá khác sẽ luôn có “ngưỡng” quy định về độ pH cho từng loài. Riêng cá rồng độ pH trong khoảng 5 hoặc thấp hơn sẽ sản sinh rất nhiều bệnh truyền nhiễm cho cá. Nhưng độ pH từ 9 trở lên cũng giết chết cá.

– pH trong khoảng 7,5 – 8,5 là lý tưởng để duy trì sự phát triển của các loại vi sinh hữu ích.

– Việc thay nước luôn có ý nghĩa quan trọng để có môi trường nước trong sạch. Riêng đối với cá rồng ta nên tiến hành càng thường xuyên càng tốt nhưng chỉ với một lượng nhỏ. Nếu ta thay thường xuyên và toàn bộ bể cá thì các yếu tố trong bể sẽ thay đổi nhanh chóng, tác động đột ngột đến cá. Quá trình tác động đột ngột này rất dễ làm cá yếu. Thay mỗi tuần khoảng 20% lượng nước là cần thiết, cá sẽ cảm thấy thoải mái và phát triển tốt. Bạn có thể dùng bảng theo dõi lượng nitrate được phép trong mỗi lít nước để thực hịên việc thay nuớc. Nhưng đối cá rồng đem thi đấu thì nên thay nước mỗi ngày. Bởi chúng vừa trải qua quá trình giao đấu quyết chiến nên ít nhiều chúng đều bị thương tích. Môi trường nước không sạch sẽ tạo điều kiện cho các kí sinh trùng bám, cá rồng dễ bị nhiễm trùng. Thường xuyên đưa nước mới vào hồ thì tốt hơn bất kì loại máy lọc nào có trên thị trường.

– Mỗi lần thay nước ta nên cho một lượng muối nhỏ để làm dịu cá rồng và giúp cho hệ thống miễn nhiễm ngăn ngừa bệnh tật, đồng thời muối cũng giúp giảm lượng nitrate gây ngộ độc cho cá. Nước sạch sẽ giúp lượng amonia ở mức tối thiểu, và lượng nitrit ở mức dưới 0,3 mg/lít và giữ cho nước luôn ở điều kiện tốt nhất. Không nên thay nước quá 50% mỗi lần hoặc giặt các bông giặt và các hạt lọc trong cùng thời gian, vì khi đó có thể nảy sinh sự tiêu diệt hàng loạt lượng vi khuẩn hữu ích cũng có thể gây tổn hại đến cá do các vi sinh chết tạo ra một lượng amonia hoặc thay đổi pH đột ngột. Cá rồng chỉ đẹp khi khỏe mạnh và chỉ khỏe mạnh khi được ở trong môi trường nước sạch.
Nuôi cá cảnh tưởng chừng là một việc dễ nhưng khi bắt tay vào việc nuôi và chăm sóc người nuôi gặp không ít khó khăn để có bầy cá khỏe mạnh. Người chơi cá cảnh gặp khó bắt đầu từ khâu chọn đối tượng nuôi sao cho phù hợp, cách nhận biết đặc tính cá khỏe để chọn mua, kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng, kỹ thuật nuôi vỗ, kích thích sinh sản và nuôi dưỡng cá con, … Để làm được những việc đó điều cơ bản đầu tiên người nuôi cần lưu ý một số kỹ thuật phòng bệnh chung cho cá:



– Cá phải được xem thật kỹ trước khi mua về. Không mua cá có màu sẫm quá, quá ốm, quá sợ sệt, có vây bị ăn mòn, bị xây xát trên thân, phân trắng.

– Cá vừa mới mua về phải được cách ly tối thiểu 6 tuần.

– Không bao giờ chuyển nước từ hồ cách ly vào trong hồ nuôi.

– Không sử dụng bất kỳ dụng cụ hay trang thiết bị nào từ hồ cách ly cho những hồ khác mà không được sát trùng.

– Cho cá ăn những khẩu phần khác nhau, chứa nhiều chất xơ.

– Dành cho cá môi trường sống tối ưu.

– Không đưa cây thủy sinh vào hồ nếu cây đó trồng chung với cá.

– Dành nhiều thời gian thường xuyên quan sát và chăm sóc cá.

– Chỉ đưa cá về nhà sau khi đã chắc chắn là cá khỏe.

– Cá có bệnh cần phải để trong hồ cách ly. Hồ cách ly phải được sát trùng thường xuyên.
Kỹ thuật nuôi trồng
Cá thiên đường (paradise), dân gian quen gọi là cá săn sắt, có xuất xứ từ nhiều vùng ở Triều Tiên, Trung Quốc và Việt Nam. Cá có nhiều giống, mỗi giống có hình thù, màu sắc khác nhau: Albino (bạch tạng), Black (đen), Chinese paradise v.v… với các tên khoa học tương ứng: Macropodus opercularis, M. concolor, M. oceplatus…

– Trong thiên nhiên, cá sống bình thường ở nhiệt độ nước 23 – 25 độ C, độ pH 6,8 – 7,0. Cá trưởng thành có kích cỡ từ 8 – 12 cm. Đây là loài cá ăn động vật sống: Ấu trùng, bọ nước, trùn chỉ… Khi nuôi trong hồ, chúng ăn được dễ dàng thực phẩm chế biến dạng viên bi nhỏ. Cá hiền lành, có thể sống quần thể với những loài cá khác. Trong mùa giao phối cá tương đối hung hăng khi giành bạn tình với những con đực đồng loại.



– Cá sinh sản nhiều, dễ nuôi, lại rất xinh đẹp. Hiện trên thị trường, loài cá này rất hiếm thấy bởi không mấy người khai thác kinh doanh. Đôi khi bắt gặp ở một số cửa hàng cá cảnh với số lượng không nhiều, nên người có nhu cầu nuôi dễ bị bắt chẹt, bị hét giá trời ơi nhưng không phải ai cũng được… phục vụ!

– Ở miền quê, con cá thiên đường là thức ăn dân dã khoái khẩu nhà nông ra ruộng hàng ngày xúc bắt hàng chén đem về kho tộ. So với con lia thia, cá thiên đường có nét đẹp quyến rũ không kém, thế nhưng giá cá lia thia trên thị trường từ 15.000 – 70.000 đ/con trong khi đó, cá thiên đường không được mấy người chơi cá cảnh biết đến.
Việc lai tạo cá rồng châu Á hầu như chỉ được thực hiện trong ao đất. Một trong những yếu tố hạn chế việc gia tăng sản lượng là không thể xác định được giới tính của cá giống. Xác định giới tính cá rồng là yếu tố quan trọng trong vấn đề xác định tỷ lệ giới tính cá giống nhằm tối ưu hóa lai tạo.

1. Cách xác định giơi tính
– Trong hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa công ty Qian Hu và ông Alex Chang của Ngee Ann Polytechnic, một phương pháp xác định giới tính mới bằng chỉ số giới tính (AGI: chỉ số giới tính: Arowana Gender Index) được phát triển. Ngày nay, các nhà lai tạo cá cảnh thương mại có thể áp dụng phương pháp này để xác định tỷ lệ giới tính cá giống nhằm thu được nhiều cá con nhất. Phương pháp này đơn giản, tiết kiệm và hiệu quả hơn so với cách nghiên cứu DNA truyền thống.

– Phương pháp dựa trên sự khác biệt về quan hệ của các đặc điểm hình thái giữa cá rồng đực và cái trưởng thành. Phương pháp có độ chính xác cao (lên đến 70%) và chỉ số sẽ giúp cải thiện mức độ sinh sản của cá rồng giống. Chỉ số này được áp dụng cho cá rồng trên một tuổi và chỉ phù hợp đối với những con mạnh khỏe, không dị dạng.



– Trong đó:
+ HH: độ rộng thân tính từ gốc vây bụng (hay kỳ).
+ WH: độ dày thân tính từ gốc vây bụng (hay kỳ).
+ LH: độ dài đầu tính từ chóp râu đến viền nắp mang.

– Cá đực sẽ có AGI trên 111 và do đó chỉ số của cá cái sẽ thấp hơn.

– Qian Hu không đề cập đến việc nghiên cứu được thực hiện trên dòng cá rồng nào nhưng theo logic thì có thể đoán là một trong hai dòng giá trị nhất là huyết long và quá bối, hoặc là cả hai. “Tỷ lệ giới tính” cá giống (nhằm đạt sản lượng cá con tối ưu) cũng được nhắc đến nhưng không hề có con số cụ thể.

2. Phân biệt qua quan sát nắp mang
– Với cá trưởng thành, hình chữ A ở nắp mang cá cái rõ ràng và kích thước mũi tên hẹp, trong khi vùng chữ A ở nắp mang cá đực méo mó và kích thước mũi tên rộng hơn. Điều này hợp lý vì cá đực ấp trứng trong miệng nên cổ họng và nắp mang phải to.



– Dạng đầu muỗng (spoon head) hay đầu đạn (bullet head) không liên quan gì đến giới tính. Kích thước vây cũng vậy, vây dài và to cũng chưa chắc là cá đực.

– Cá đực dài hơn, đầu to hơn trong khi cá cái ngắn và vuông vức hơn, đầu nhỏ hơn. Trong cùng điều kiện nuôi, cá đực phát triển nhanh và dài hơn so với cá cái. Ở kích thước dưới 20 cm thì chưa có nhiều khác biệt. Nhưng cá cái lớn chậm lại khi đạt 35 cm và phát triển thiên về chiều rộng, chiều dày và cân nặng. Ở 38 cm thì cá cái bắt đầu sinh sản.

– Màu sắc cá non cũng không có nhiều khác biệt. Nhưng khi trưởng thành, cá đực có nền xanh nhạt hơn và viền vàng phát triển đến 80% bề mặt vảy. Cá cái có nền xanh đậm hơn, và viền vàng phát triển chỉ đến 50% bề mặt vảy (người chơi quá bối nên lưu ý đặc điểm này).
Kim Long Quá Bối có rất nhiều loại: Golden X-back, blue xback, puple xback, … nhưng chung quy đó chỉ là tên của các trại cá tự đăc để lăng xê, quảng bá riêng cho giống quá bối của họ. Tuy nhiên nguồn gốc của chúng vẫn là từ Malaysia. Rồi từ đó, chúng đươc nhập sang Singapore, và nảy sinh ra nhiều cái tên hiệu nghe rất kêu, nhưng thật ra thì chỉ là một loại. Tóm tắc lai, chỉ có 5 loại quá bối:

1. Kim Long Quá Bối nền vàng
Khi trưởng thành, vảy sẽ lên hết màu vàng óng ánh như vàng 24K. Nhìn chúng bơi trong bể/hồ không khác chi nhìn một thỏi vàng 24K biết bơi. Giống này 100% nền vàng, vào thời buổi bây giờ muốn tìm cũng hơi khó vi không ít thì nhiều chúng đã lai khi đươc ép vơi những loại quá bối khác. Tên tiếng anh của Kim Long Quá Bối nền vàng thì nhiều lắm: Pahang gold (Kim Long Quá Bối nền vàng Pahang), Johore Gold (vàng Johore), Malyan Bonytongue (Luỡi xương Malayan), Malaysian Golden Crosback (Kim Long Quá Bối nền vàng), Taiping Gold (vàng taiping), Panda classic full gold (Panda Kim Long Quá Bối nền vàng toàn thân; Panda không phải là địa danh, mà chỉ là tên hiệu của môt trại cá)… Hầu hết, bạn sẽ thấy tên đươc đặc từ những đia danh mà chúng được phát hiện. Ví dụ nếu hồ gươm giờ có Kim Long Quá Bối nền vàng sinh sống, thì tên tiếng Anh của nó sẽ là Sword Lake Golden crossback. Kim Long Quá Bối giống tốt, đẹp nếu mua chính gốc từ các trại cá thì khoảng $2.500USD là bạn có thể sở hữu chúng.



2. Electric blue crossback
Electric blue crossback với rất nhiều tên gọi: Emerald blue crossback/Ruby Gold crossback/BMB crossback (nguyên quán xuất thân từ hồ Bukit Merah bên Malaysia)/Panda Wild blue/Panda marble blue…. Nhưng tên thật kêu này được các trại cá bên Singapore như Panda, Qian Hu, Rainbow, Dragon Fish Industry (DFI), Singapore Arowana Breeding Farm (SABF) đặc tên cho cá của họ nhưng chúng đều la một loại Kim Long Quá Bối nền xanh. Ngoài ra còn có Kim Long Quá Bối purple base (nền tím) và green base (nền xanh lá cây). Giá cả cũng giống như loại 1. Một đặc điểm của giống Kim Long Quá Bối không nhất thiết là nền gì… khi trưởng thành khoảng độ trên 4 – 5 tuổi, thì sau khi vẩy của thành 1 và 2 (first rim and second rim) đã có màu vàng từ lúc nhỏ, khi trưởng thành sẽ lan vào nền của vảy và biến thể thành màu vàng. Có giả thuyết lập luận rằng vì tât cả các giống Kim Long Quá Bối đều xuất phát từ giống nền vàng mà ra.



3. Kim Long Quá Bối Platinum
Một loại Kim Long Quá Bối khác mà chắc bạn cũng đã nghe qua là Platinum Crossback (Kim Long Quá Bối Platinum). Giống này thât sự là một sự di dạng, đột biến vì di truyền. Melanin cần phải có trong genes để tạo nên màu sắc của cá (tất cả các loài cá), nhưng vì trong quá trình phát triển từ lúc còn là trứng, sư cấu tạo của melanin bị đột biến (có nhiều nguyên do tạo nên hội chứng này), nên melanin không được tạo thành, vì thế cá không có màu sắc. Melanin deficiency syndrome (hội chứng thiếu hụt chất Melanin) có nhiều cường độ từ nhẹ đến nặng. Trong trường hợp nặng nhất cá sẽ hoàn toàn không có màu sắc, nền vẩy trên toàn thân sẽ trở thành màu trắng bạc vô cùng óng ánh. Bạn cứ tưởng tượng màu trắng của tuyết khi được rọi trực tiếp bởi ánh sáng của mặt trời thì sẽ lấp lánh, sáng tỏa màu trắng cực đẹp như kim cương ví như hột xoàn toả sáng, lấp lánh khi gặp ánh đèn. Kim Long Quá Bối Platinum cũng sẽ toả sáng như thế. Vì sự đột biến của di truyền nêu trên rất ít khi xảy ra vì thế trở nên rất hiếm và cái gì khi hiếm thì sẽ trở nên rất đắc. Một con Kim Long Quá Bối Platinum bi hội chứng thiếu hụt chất Melanin loại nặng nhất, giá đươc bán ra khoảng $15.000 – 20.000USD/con. Nhưng không phải có tiền muốn mua thì được vì loại này không có sẳn bao giờ. Loại bị hội chứng này ở tính trạng vẫn có melanin trong cơ thể, nhưng vẫn thiếu hụt, vì thế tình trạng sẽ nhẹ hơn thì không đắc như thế, nhưng cũng đòi hỏi người mua ở giá từ $8.000 – 10.000USD/con. Không có mấy tay chơi cá rồng trên khắp thế giới có những loại đồ chơi này, vì chúng đấ hiếm quý. Một điều nữa mà bạn nên cần biết về giống cá này: tuy chúng rất đẹp, rất hiếm, rất đắc, nhưng chúng cũng rất là không khoẻ so vói các loại cá rồng khác nguyên nhân do chất melanin giúp cơ thể các loài động vật không kể riêng gì cá rồng chống lại tia hồng tủ ngoai (ultra violet light) cực độc của mặt trời, để giúp phòng chống ung thư và cơ quan miễn nhiễm, phòng chống bênh tật của giống cá này cũng yếu hơn các đồng loại cá rồng khác. Tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời nhiều hay ánh sáng đèn của hồ/bể cá dùng loại bóng đèn có công suất quang phổ tương đương với ánh sáng mặt trời từ 6.000 – 10.000 Kelvin, thì chú cá hiếm quý này sẽ sớm toi mạng. Bạn có thể nói, thế thì nuôi nó tránh sử dụng đèn! Nhưng nếu bạn làm thế thì sẽ không thấy được cái óng ánh đến độ loà cả mắt của Kim Long Quá Bối platinum. Nhưng nếu có dư tiền, có hàng, không tiếc tiền khi nó toi mạng và được tiếng là một trong số ít oi, đếm trên đầu ngón tay, trong giới làng chơi cá rồng trên cả thế giới sở hửu môt chú cá như thế thì cũng thích.



4. Red Splendour/Rose Gold/Tong Yang crossback
Tuy ba tên khác nhau của ba trại cá bên Singapore nhưng thực chất là một loại Kim Long Quá Bối thôi. Đây là loại cá lai giữa huyết Long và Kim Long Quá Bối. Lý do có giống cá này ra đời mà trong thiên nhiên không có vì: Kim Long Quá Bối có được màu sắc rực rỡ trên vẩy hơn Huyết Long nhưng nhỏ con, không to lớn bằng Huyết Long. Huyết Long bù lại sẽ có được vi, cờ, kích thước to hơn, dài hơn, vẩy hàng thứ 6 lên màu nhanh hơn, và đô con hơn. Giống này sẽ nhân đươc yếu tố di truyền của cả bố và mẹ nên hy vọng là sẽ được những đặc tính đẹp của bố mẹ chúng. Vì thế nên mới có giống cá lai này, nhưng giá cả cũng rất đẹp $3.000 – 5.000USD/con.



5. Kim Long Quá Bối
Theo nguyên tắc của Quá Bối (chỉ theo nghĩa qua bối = crossback), thì Huyết Long và Hồng Long là một giống của Quá Bối vì hầu hết huyết long khi trưởng thành vẩy của hàng thứ 6 sẽ lên màu hơn. Huyết Long mua tận gốc giống đẹp, ngoại hình đẹp thì giá $2.000 – 2.500 USD/con đã có thể mua được rồi. Cái mode rất là thịnh hành bây giờ, là dân chơi Kim Long Quá Bối không nhất thiết phải là loại nền nào (vàng, tím, xanh, xanh lá cây), nhưng phải có đầu vàng (trên đỉnh đầu có một cục màu vàng khè 24K), to bằng khoảng đầu ngón tay thì mới là hàng thượng hạng. Nhưng đầu vàng cũng có thể bị gạt nếu không thật sự là đầu vàng, vì Kim Long Quá Bối giống thường khi nuôi trong bể (hồ) được bọc (sơn) toàn màu trắng khoảng 4 – 6 tháng cũng sẽ có được đầu vàng. Nhưng nếu không tiếp tục nuôi trong môi trường như thế thì đầu vàng sẽ mất đi nhanh chóng.
Kỹ thuật nuôi trồng
I. Phân loại cá rồng
Có 4 loại cá rồng:
– Cá rồng châu Á (Asian Arowanas).

– Cá rồng châu Úc (Australia Arowanas).

– Cá rồng Nam Mỹ (South American).

– Cá rồng châu Phi (African).

II. Cá rồng châu Á
– Cá Rồng Châu Á là loại cá được xếp vào hàng đầu trong thế giới cá cảnh, vì sự ưa chuộng rộng rãi, giá trị cao và vẻ đẹp của nó. Nét độc đáo của hình dạng, miệng rộng và vẩy sáng đã làm cho cá rồng trở nên đặc biệt và đã làm cho bao con tim của những tài tử si mê cá phải rung động. Với nét gần gũi cùng tổ tiên Nhà RỒNG, tất cả các Hoa Kiều trên toàn thế giới đều tin tưởng Cá Rồng là tượng trưng cho sự may mắn, phát tài lộc, và đem lại hạnh phúc do đó cá rồng trở thành con vật được cưng chiều nuôi nấng trong nhà để làm cho Phong Thủy được tốt hơn. Theo tương truyền hồ cá rồng là Phong, Nước hồ là Thủy, Cá Rồng là Tài, ba chữ này hợp lại thành Đại Phúc. Do vậy ngoài việc thưởng thức vẻ đẹp hiếm thấy của cá rồng mà các chủ nhân thường xem cá rồng như là biểu tượng cho sự phú quý của mình, đó là lý do tại sao cá Rồng được ưa chuông nhiều.

– Cá Rồng châu Á được chia ra làm 4 loại tùy theo màu sắc tự nhiên khác nhau của từng giống:
+ KIM LONG QÚA BỐI từ Malaysia (Cross Back Golden Malaysia).
+ HUYẾT LONG (Super Red) từ tỉnh West Kalimantan, Indonesia.
+ KIM LONG HỒNG VỸ (Red Tail Golden) từ tỉnh Pekanbaru, Indonesia.
+ THANH LONG (Green Arowana) Riêng giống này có thể tìm thấy ở vài nhánh sông khác tại Malaysia Indonisia, Myanmar và Thái Lan. Trong những năm qua, vì sự ưa chuọ?g đại trà và nhu cầu quá cao, cộng với hứa hẹn của siêu lợi nhuận, sự săn bắt tận cùng bừa bải đã đưa số lượng cá rồng gần như tuyệt chủng. Đặc biệt là giống Kim Long Quá Bối và Huyết Long đột nhiên biến mất trong thập niên 80. May mắn thay, cá rồng được bảo vệ bằng cách liệt kê vào hàng động vật có cơ hội tuyệt chủng của CITES (Wild Fauna and Flora) được đăng ký vào hạng mục bảo vệ động vật số 1 (Appendix I CITES). Từ đó những kẻ săn bắt cá rồng mà khô?g có giấy phép sẽ bị truy tố và phạt tiền rất nặng, cho đến hôm nay vẫn còn nhiều quốc gia cấm buôn bán cá rồng như Mỹ và Đài Loan.

1. Kim long quá bối (Cross Back Golden)
– Có nhiều tên cho loại cá này, có người gọi Kim Long Quá Bối, Lưỡi xương rồng Mã Lai (Malayan Bony Tongue), Bukit Merah Xanh (Bukit Merah Blue), Đài Bắc Thanh Hoàng Long (Taipie Blue Golden) và Vàng của Mã (Malaysian? Gold). Tất cả đều cùng loạ: KIM LONG QUÁ BỐI. Cá này khi trưởng thành sẽ có màu suốt qua lưng. Lý do có nhiều tên là vì cá này được tìm thấy tại nhiều nơi trên lãnh thổ Malaysia như Perak, Trengganu, Hồ Bukit Merah và Johor.



– Vì lý do nguồn cung ứng thấp, và nhu cầu thì quá cao, cho nên loại cá này thuộc dạng đắt nhất, và yếu tố làm cho giá tăng cao hơn là vì ngoài sự hiếm hoi có sẵn, kỹ thuật ép đẻ thành công cũng thấp. hiện nay các trại cá ở Sing và Mã Lai đang ép giống cá này.

– Kim Long Quá Bối còn được phân loại xa hơn tuỳ theo màu của vẩy cá, bao gồm: Nền Xanh, Nền Tím, Nền Vàng, Nền Xanh Lục, và nền Bạc. Từ ngữ Nền Xanh và Nền Tím được dùng lẫn lộn tuỳ theo từng trại cá ép vì dải màu xậm trên sống lưng cá khi nhìn ở góc nghiêng thì có màu xanh dương đậm, nhưng khi nhìn ở một góc độ khác thì thành màu tím sậm. NỀN VÀNG là loại có vẩy màu vàng 24K, óng ánh từ viền vảy vào đến tâm vảy. Thay vì tâm vảy màu xanh hoặc màu tím. Cá nền vàng này qúa bối (màu qua lưng) nhanh nhất so với các loại cá khác. Kim Long Quá Bối có một sắc màu toàn vẹn nhất, khi trưởng thành, toàn thân vàng ửng như 1 thỏi vàng 24K bơi lơ lửng trong hồ. Thỉnh thoảng quay vòng nhẹ nhàng và tự tin trong phong thái VUA của các loài Cá Cảnh. Trong khi các loại cá cũng màu vàng khác không có được sắc màu trời cho này. Dĩ nhiên cũng không quên đề cập tới người anh em Nền Xanh Lục và Nền Bạc có tâm vảy màu xanh lục và màu bạc, tuy nhiên ít được ưa chuộng hơn.

– Thật khó khăn khi muốn phân biệt cho thật chính xác vì các trại ép cá thường hay ép giống này lai qua giống khác, không còn thuần chủng như ngày xưa. Tuy nhiên ưu điểm là họ đã sản xuất ra những loại cá mới, lạ và sặc sỡ hơn. Điển hình các loại cá mới như Platium White Golden (Bạch Ngọc/Bạch Kim) và Royal Golden Blue (Hoàng Triều Thanh Long) là giống mới được sản xuất gần đây. Hai loại này hiện đang mang bảng giá cao nhất thế giới, và các Đại Gia Nhật Bản không quản ngại tiền bạc tung ra chỉ để sở hữu 1 chú này (DTV: có 1 chú đã bán ở Nhật với giá 800,000 USD và 1 chú khác giá 280,000 USD ????) và chỉ có ở Malaysia mới sản xuất thành công 2 loại cá trên.

2. Huyết long (Super Red)
– Đây là loại Rồng Châu Á có màu đỏ. Cá Rồng Đỏ phát hiện tại nhiều vùng thuộc địa phận Tây Kalimantan ở Indonesia, địa danh nổi nhất là Sông Kapuas và Hồ Sentarum, tại đây, loại Rồng Đỏ (Đỏ Ớt và Đỏ Máu ? Chilli and Blood Red) được phát hiện đầu tiên. Đây là loại cá phổ biến nhất trong các loại cá rồng, nguyên nhân là vì màu sắc sặc sỡ đồng thời giá cả mềm hơn loại Kim Long Quá Bối, điểm nổi bật là vi, đuôi, miệng, râu đã trổ màu đỏ từ khi còn bé, các tay chơi cá thật khó cưỡng nổi ham muốn và rất thích làm chủ 1 chú cá này. Khi lớn lên màu đỏ bắt đầu xuất hiện ở những phần thân thể khác như nắp mang cá, viền của vẩy, làm cho toàn thân cá ửng đỏ lên. Sự phổ biến và ưa chuộng Rồng Đỏ đã thúc đẩy các trại cá bắt đầu ép cá Rồng đỏ vì siêu lợi nhuận và hiện nay Rồng Đỏ lại đắt hơn Kim Long Quá Bối, tuy nhiên sau 1 thời gian ồ ạt sản xuất, Rồng Đỏ đã hạ gía thành, tuy nhiên vẫn đắt hơn Kim Long Quá Bối.



– Rồng Đỏ được chia ra làm 4 loại khác nhau: Đỏ Ớt (Chilli Red) Đỏ Huyết (Blood Red), Đỏ Cam (Orange Red) và Đỏ Vàng (24K) (Golden Red). Thời gian gần đây những rồng đỏ này được góp lại và gọi chung cùng tên là Huyết Long (Super Red) hoặc Rồng Đỏ cấp 1 (1st Grade Red). Điều này tạo ra tranh cãi, vì cách áp dụng tên Huyết Long khi loại Đỏ Cam và Đỏ Vàng không đạt được đúng nghĩa của chữ ĐỎ khi so sánh với 2 loại trên, vì chúng chỉ xuất hiện màu vàng da cam hoặc vàng 24K. Dù vậy các trại cá vẫn lạm dụng từ Huyết long để đặt tên chung cho cá ép của trại mình.

– Cả 2 loại Đỏ Ớt và Đỏ Máu đều xuất xứ từ nguồn nước nổi tiếng ở miền Tây Kalimantan, Indonesia có tên gọi là Sông Kapuas và Hồ Sentarum. Hồ Sentarum bao gồm nhiều hồ nhỏ nối liền với nhau và tập hợp lại tại đầu cuối của Sông Kapuas. Trong nước này chứa nhiều cây gẫy lâu năm chìm trong lòng sông hồ tạo thành môi trường tốt cho cá rồng sinh sống , nhưng với sự ô nhiễm, chất thải, bùn bẩn, nước tù đã ảnh hưởng không ít đến màu sắc nguyên thủy của cá rồng tại đây. Một nguyên nhân khác ảnh hưởng đến màu sắc nguyên thủy của cá Rồng Đỏ là sự ép giống lộn xộn đã sản sinh ra nhiều màu khác nhau. Có những giống có mình dày hơn, miệng cong và sâu hơn, có giống màu đỏ tươi hơn, màu nền xậm hơn. Vì sự khác biệt này, những người lái cá đầu tiên ở Indonesia chế ra 2 tên gọi chung cho 2 nhóm rồng hoá đỏ chính được tìm thấy trong vùng: Đỏ Ớt (Chilli Red) và Đỏ Máu (Blood Red). Những tên này được gán cho cá là vì độ Đỏ giữa 2 loài cá này. Đỏ ớt có màu đỏ tươi và Đỏ Máu có màu đỏ đậm hơn giống như máu bầm. Bên cạnh màu sắc, 2 loại cá này cũng có hình dạng khác nhau. Đỏ Ớt có thân mình rộng và dày hơn, trong khi Đỏ Máu thì dài và dẹp hơn, Sự khác biệt này có thể dễ dàng nhận ra khi nhìn chú Đỏ Ơt thì độ dày ngang từ sống lưng qua bụng đến đuôi đều dày và rộng trong khi Đỏ Máu từ thuôn hơn khi nhìn từ gáy đến phần đuôi. Sự khác biệt về hình dáng và có độ vảy dày hơn, đầu hình cái muỗng, màu đỏ tươi, đã làm cho Đỏ Ớt trở thành như lực sĩ thể hình, Xung, Cân đối và dễ nhìn.

– Điểm khác biệt khác dễ nhận dạng là Đỏ Ớt có cặp mắt thật to, màu đỏ và đuôi hình Kim Cương (Diamond – shaped tail) – (DTV: Ở VN thì gọi là hình trái đào). Trong khi Đỏ Máu thì có cặp mắt trắng và nhỏ, đuôi thì mở rộng hình cánh quạt (Fan-Shaped Tail). Cặp mắt của Đỏ Ớt rất to và rộ?g, đôi khi to đến độ phần trên gần như đụng đầu và phần dưới gần chạm vào miệng. Phần đuôi của Đỏ Ớt giống như hình viên Kim Cương và mọc dài ra phía sau khi trưởng thành. Mặt khác, Đỏ Máu thì có cặp mắt nhỏ hơn nhiều nhìn vào thấy ?bình thường? hơn và tròn trịa hơn. riêng phần đuôi thì xoè ra như cánh quạt thật đẹp. Những khác biệt này thật rõ ràng kể cả khi cá còn rất bé cũng có thể nhận ra.

– Đỏ CAM (Orange Red) Đây là loại cá rất phổ biến trong giới ép cá đẻ vì dễ thành công hơn, loại không phải là loại “Hoá đỏ” (Red-turning type). Khi trưởng thành chú cá này ?trình diễn? vây màu Vàng Cam phủ đầy mình rất rõ khi so sánh với Đỏ Ớt và Đỏ Máu. Sự khác biệt thể hiện rõ hơn khi phần Vi trên + dưới và đuôi cũng không được màu đỏ như 2 loại đàn anh trên.

– Đỏ VÀNG (Golden Red) là loại cá rồng cũng thường gặp bên cạnh người anh em Đỏ Cam. Loại này có giá trị thấp nhất trong các loại Rồng Đỏ vì khi trưởng thành, nó chỉ có màu vàng nhạt quanh thân thể, môi và râu cũng không có màu đỏ mà chỉ hơi vàng 1 tí thôi, thật ra có nhiều con thuộc loại này cũng không có màu ở vi và đuôi nữa. Đây là hậu quả của sự ép đẻ khác giống đã cho ra 1 thế hệ có chất lượng nửa vời, chỉ vì sự ép đẻ rất thành công dễ dàng cho những trại cá chủ trương bán rẻ nhưng bán nhiều (số lượng hơn chất lượng !!!!)

– Đỏ Xanh Lục (Banjar Red) hoặc còn gọi “Công dân loại 2” (2nd Grade Red) chưa bao giờ chính thức từ giống Huyết Long. Đây cũng lại là một chế tác của các ông lái cá tài tử ép đẻ giữa cá mái Đỏ Xanh Lục, Hồng Vỹ hoặc Thanh Long với Huyết Long đực chính hiệu để tăng năng xuất về cá con. Đôi khi các tay buôn này còn dùng hormones hoặc thuốc kích thích để làm cho các chú cá này nhìn rất là “Đỏ”. Vì vậy khi mua Rồng Đỏ TUYỆT ĐỐI không nên mua loại cá được giới thiệu “Rồng Đỏ tự nhiên” (Wild caught Red Arowana) và khi hỏi có khai sinh thì lại trưng ra KS của CITES (DTV: Tất cả cá rồng không phân biệt loại nào, dù rẻ hay đắt, bán ở tiệm tại các nước Mã, Thái, Indo, Sing đều phải có khai sinh, vì nếu không khi bị bắt sẽ bị phạt rất nặng (động vật quý hiếm có cơ diệt chủng). Cách cuối cùng cho chúng ta nhận biết là nhìn đầu cá thì tròn hơn, miệng không được nhọn, vẩy không sáng, có màu xanh/vàng trên vẩy là đúng loại Banjar Red.

3. Kim long hồng vỹ (Red Tail Golden)
– Được biết đến với tên Kim Long Hồng Vỹ (KLHV) hoặc Kim Long Indo, loại này được xếp hạng chung trong gia đình Kim Long với Kim Long Quá Bối (KLQB), Kim Long Malaysia, giá thành của Kim Long Hồng Vỹ rất ?mềm? so với Kim Long Quá Bối. Lý do là vì KLHV sẽ không bao giờ đạt được màu vàng 24K như KLQB, và màu vàng của KLHV sẽ không bao giờ vượt qua khỏi lưng mà khi trưởng thành luôn luôn có 1 vệt đen lớn kéo dài từ đầu đến đuôi cá. Mặc dù giá trị không cao khi so sánh với ?Cục Vàng Biết Bơi? (KLQB), nhưng đa phần các chú KLHV này sẽ có màu vàng lên đến lớp vảy thứ 4 và có vài chú, choé hơn thì màu vàng lên đến hàng vảy thứ 5. Cũng giống như đồng chí KLQB, KLHV cũng khác loại tuỳ theo màu sắc từng con, như nền xanh, xanh lục và nền vàng. Khi còn bé KLHV không có màu sắc gì hết trong khi KLQB đã thể hiện màu mè rõ ràng, sáng lóng lánh, và màu cũng đã xâm nhập lên hàng vảy thứ 5 rồi.

– Nói chung KLHV “lì lợm” hơn so với KLQB, nhanh lớn hơn, và cỡ bự hơn, tuy nhiên Hồng Vỹ thì XUNG hơn KLQB. Thật khó khi nuôi chung trong 1 hồ lớn, thường thì 8-9 con cá nhỏ, trong khi KL Malaysia thì không sao cả, loại này cũng được bảo vệ của CITES, tuy nhiên vẫn bị săn lùng ở nơi thiên nhiên, ngoài ra, các bạn bạn rất giống nhau từ đuôi, Vi, và màu trên miệng của 2 loai KLHV này.

4. Thanh Long (Green Arowana)
– Đây cũng là 1 loại trong giòng họ cá rồng, thường tìm thấy ở Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Indonesia và Campuchia. Vì loại này sống ở nhiều phong thổ khác nhau và rộng rãi như vậy nên hình dạng và màu sắc cũng có thể khác nhau. Hầu hết những loại Thanh Long tìm thấy ở những nơi này có màu xám xanh ở thân mình và đuôi có sọc xanh xám đậm. Hình dáng Thanh long cũng đặc trưng khác thường hơn so với các loại cá rồng khác, đầu và miệng thì tròn và to hơn. Đây là loại cá rẻ tiền nhất trong các loại rồng cùng với loại Đuôi Vàng (Yellow Tail). Tuy nhiên có 1 loại Thanh Long Xanh (có xen lẫn màu tím trên tâmvảy) thì lại được đứng chung hàng với các đàn anh cao quý khác. Thanh Long cùng với Huyết Long hhạng 2 (2nd Grade Red) được ưa chuộng nhiều nhất ở Thái Lan và Philippines vì giá mềm của nó. Bên cạnh đó, loại này cũng được các chú học trò nhỏ bên Nhật khoái vì vừa túi tiền, có khả năng tậu được, để vừa chiêm ngưỡng vừa tập ép đẻ.



– Rất bình thường các chú cá này được hầu hết các tay mới tập chơi cá dùng làm bước khởi đầu cho sự nghiệp chơi cá cảnh sau này vì, vừa rẻ vừa dễ kiếm. Sau đó đã ký cóp 1 ít kinh nghiệm rồi mới bắt đầu chuyển qua KLHV, KLQB hoặc Huyết Long.

III. Cá rồng châu Úc
– Tên Khoa Học : Scleropages Jardini, Scleropages Leichardti.

– Có 3 loại Rồng Úc: Rồng Châu, Rồng Đốm, và Rồng Đỏ.

– Rồng Châu là loài cá tuyệt đẹp, trông giống rồng châu Á. Ngoại trừ Rồng Châu Úc có nhiều vảy và vảy thì nhỏ hơn và có châu màu đỏ. Rồng Á Châu thường thì có 5 hàng vảy, rồng Úc thì có đến 7 hàng vảy, Về màu thì có màu đồng đến màu vàng 24K, rồng châu úc có vảy có những châu nhỏ hình trăng lưỡi liềm, đuôi màu đen có chấm vàng, 1 điều bình thường của loại cá này là nó hay hớp hơi trên mặt nước, Rồng Úc là loại cá XUNG nhất trong các loại rồng, và không có trong danh mục bảo vệ động vật quý hiếm.

– Rồng Đốm cũng giống như rồng Châu, ngoại trừ Vi và đuôi đậm màu hơn, còn vảy thì có những đốm tròn nhỏ chứ không có hình lưỡi liềm như loại châu, thỉnh thoảng có những đốm nhỏ màu đỏ trên vảy, loại này cũng không được bảo vệ.

– Rồng Đỏ rất hiếm, và là loại cá đẹp nhất của Rồng Úc. Vảy và Vi có màu đỏ nâu đậm với các chấm vàng, còn 1 loại hiếm thấy khác là Châu Vàng có màu vàng sáng (24K gold) hơn những loại rồng Úc khác.

IV. Cá rồng Nam Mỹ
1. Bạch Long
– Tên khoa học: Osteoglossum Bicirrhosum (BDV: Hình như VN gọi là Ngân Long).

– Bạch Long được tìm thấy ở Sông Amazon miền Nam Mỹ. Hình dạng cũng giống Hắc Long ở chỗ đuôi hình nón, vảy và vi có màu bạc, loại này không được bảo vệ. Cùng họ hàng với Bạch Long có 2 loại rất hiếm là Bạch Long Hồng Vỹ (Red-Tail Silver) và Bạch Tuyết Long (Snow Silver).



– Bạch Long là loại cá rồng phổ thông mà bạn có thể tìm thấy ở bất cứ tiệm cá cảnh nào tại bất cứ địa phương nào trên trái đất, loại này đứng hàng số 1 trong các loại rồng thuộc giống Osteoglossidae. Giống như Hắc Long, cả 2 đều xuất xứ từ Nam Mỹ, đều có đuôi hình nón, nhưng chỉ khác là màu bạc trắng toàn thân. Bạch Long khi trưởng thành có thể dài đến 90Cm, và là dài nhất trong tất cả các loại cá rồng. Bạch Long nổi tiếng ?nhậu nhẹt vô tư? ăn khỏe và dịu dàng nhất trong các loại cá rồng.

2. Hắc Long
– Tên khoa học: Osteoglossum Ferrerai

– Hắc Long cũng xuất xứ từ Nam Mỹ và hình dạng cũng giống Bạch Long ở chỗ đuôi hình nón. Khi còn bé, Hắc Long có Vi và vảy màu đen, với những dọc trắng hoặc vàng trên vi, Nhưng đến khi trưởng thành, Hắc Long sẽ từ từ mất dần màu sắc và trở thành màu xám. Hắc Long có thể dài đến 80 cm và không có trong danh bạ bảo vệ. Hắc Long khó nuôi hơn Bạch Long. Loại này hơi khó kiếm vì chỉ đẻ theo mùa, trong khi các loại khác thì có thể đẻ quanh năm.

V. Cá rồng Châu Phi
– Tên khoa học: Heterotis Niloticus.

– Còn có tên Africa Nile Arowana hoặc phổ biến hơn là Rồng Đen Châu Phi (Africa Black Arowana). Loại rồng châu phi này hiếm nhưng không đắt, vì ít có người hoặc chuyên gia cá cảnh thích nuôi vì sự xấu xí của nó so với các loại cá rồng khác.

– Rồng châu phi xuất xứ từ Phi Châu, và thường thấy ở các tiệm cá, Nó có đầu tròn, láng lẩy, và cằm cũng tròn, vẩy và đuôi nhỏ, khi trưởng thành trông giống cá tra hơn là cá rồng.
Cá ngọc trai có thân tròn, với độ rộng thân khoảng từ 3/4 đến bằng với chiều dài thân. Dòng cá này có hai loại đuôi được chấp nhận. Loại đầu kích thước đuôi từ 1/2 đến 3/2 chiều dài thân. Loại sau kích thước đuôi từ 1/4 đến 1/3 chiều dài thân. Ở mỗi loại, các đuôi phải tách biệt trên 90% và phải hơi hoặc rất nhọn. Kích thước vây lưng khoảng 1/3 độ rộng thân. Vây ngực và vây bụng phải tương ứng với đuôi. Vây hậu môn có hai thùy, hình dạng tương ứng với đuôi, vây ngực và vây bụng. Điểm đặc trưng của dòng cá này đó là các vảy phồng lên. Vảy phải đều và phát triển lên đến lưng. Có ba loại vảy là ánh kim, bán kim và phi kim. Vảy ánh kim gồm cam, đỏ-trắng, đen, xanh dương, nâu và trắng. Vảy bán kim gồm nhị sắc, tam sắc, đỏ đơn sắc và vải hoa (có hay không có các đốm). Vảy phi kim gồm tím, nhị sắc và tam sắc. Một phân dòng nữa là ngọc trai oranda mà chúng có bướu ở một hay hai vùng trên đỉnh đầu (trường hợp sau gọi là hamanishiki).



– Cá vàng ngọc trai là một trong số những dòng cá vàng lạ mắt nhất và chắc chắn một số người phải cần có thời gian để làm quen với chúng. Đặc điểm riêng biệt của dòng cá này đó là vảy xù lên trông giống như hạt trai, vì vậy mà cá được gọi là ngọc trai.

– Cá vàng ngọc trai có thân tròn, cũn cỡn, vây lưng nhỏ và vây hậu môn hai thùy. Thân cá rất tròn và gọn. Trong một số trường hợp, thân cá quá tròn trông giống như trái banh. Một số người cho rằng cá trông giống như trái banh golf có gắn thêm vây! Thân hình nhỏ gọn khiến dòng cá này cực kỳ yếu đuối đối với bênhk về bong bóng hơi.

– Đuôi cá này thường phát triển rất tốt, mà khi kết hợp với thân tròn, khiến cá có dáng bơi rất lạ trông cứ như đang lết trong nước. Một biến thể mới (trong vòng 20 năm gần đây) xuất phát từ Trung Hoa có bộ vây cực ngắn, và càng ngăn trở việc bơi lội của cá.

– Như lưu ý ở trên, vảy là điểm đặc trưng ở dòng cá này. Vảy nên xù, với mặt vảy hay lớp sừng phồng lên. Lớp sừng này có cấu tạo tương tự như vảy bình thường và có thể bị khuyết hay bong ra. Vảy, một khi lấy đi, có thể mọc trở lại và phồng lên ở gốc vảy. Với mục đích tham dự triển lãm, từng cái vảy trên thân cá sẽ được kiểm tra và nhất thiết không được thiếu cái nào. Điều quan trọng đó là vảy phải bắt đầu từ vùng bụng, phát triên lên mặt bên, qua lưng và lên gốc vây lưng. Hình ở trên mô tả một con ngọc trai vây ngắn minh họa cho bộ vảy lý tưởng mà nó leo lên lưng và lan đến tận gốc vây lưng.




– Mặc dù thân tròn, cá vàng ngọc trai không lớn lắm nếu xét trên chiều dài của thân. Hầu hết đều dài từ 10 đến 15 cm, vòng bụng của cá khiến chúng có vẻ to hơn kích thước thực sự. Cá vàng ngọc trai có nhiều loại màu và vảy (bên cạnh vảy ngọc trai) bao gồm ánh kim, bán kim và phi kim. Ngọc trai rất khỏe mạnh và có thể nuôi chung trong hồ có nhiều loại cá vàng khác, mặc dù chúng có thể không cạnh tranh nổi thức ăn đối với các dòng cá vàng khác vì bơi lội bất thường. Tôi chưa bao giờ nuôi ngọc trai ngoài ao nhưng chúng nên được nuôi ở đó, dù vậy tôi khuyên không nên để cá ngoài trời vào mùa đông.

– Một biến thể của ngọc trai với đầu mũ gọi là hamanishiki hay oranda vảy ngọc trai. Những con cá này có hình dạng và ngọc trai tương tự như cá vàng ngọc trai nhưng lại có thêm mũ giống như cá vàng oranda. Loại cá này tuyệt đẹp khi cả mũ và ngọc trai đều có chất lượng. Đôi khi, thay vì có một mũ, hamanishiki có thể có hai mũ trên đỉnh đầu.
Cá Tứ vân là một trong số các loài cá cảnh được ưa thích hiện nay. Cá có hình dáng và hoa văn (4 sọc đứng) đẹp. Cùng với tập tính hiếu động, bơi lội thành đàn đã góp phần làm sinh động thế giới “đại dương bé nhỏ” trong các bể cá. Trong 2 năm qua, Cá Tứ vân được sản xuất khá nhiều ở TPHCM. Mô hình nuôi Cá Tứ vân dể thực hiện, chi phí đầu tư thấp, trang thiết bị đơn giản. Nhờ đó, mô hình này có khả năng phát triển ở nhiều vùng của TP. HCM.

I. Thông tin chung
– Hình dáng: Thân hình cá ovan.

– Kích thước: khoãng 4cm – 10 cm.

– Màu sắc màu nền của thân từ màu bạc đến vàng nâu, xanh, điểm đặc trưng nhất của loài là có 4 sọc đứng (tứ vân), phổ biến là sọc màu đen, gốc vi và mũi màu đỏ.

ca tu van secan

– Điều kiện sống: Độ pH trong hồ nên ổn định từ 6,0 – 7,5.

– Thức ăn: Là loài ăn tạp, cá ăn được rất nhiều loại thức ăn dành cho cá cảnh. Lợi dụng đặc tính này, khi sản xuất hay chơi cá Tứ vân nên đa dạng loại thức ăn để cung cấp nguồn dinh dưỡng đầy đủ, cân đối, cá sẽ khỏe và có màu sắc, hoa văn đặc trưng, sặc sỡ hơn. Cá Tứ vân là dòng cá sống bầy đàn rất hiếu động hay ăn hiếp những loài cá nhỏ hơn chúng.

– Giới tính: Cá Tứ vân cá cái thường to hơn cá đực cùng lứa tuổi. Cá cái có bụng tròn hơn, vây lưng màu đen, vây bụng màu đỏ nhạt bình thường trong khi cá đực có mũi màu đỏ sáng, sặc sở hơn bình thường, vây lưng có một đường đỏ sáng.



– Sinh sản:
+ Tuổi thành thục: 6 – 7 tuần tuổi. Khi đó, chiều dài tổng cộng của cơ thể: 2 – 3 cm.
+ Đẻ trứng: cá Tứ Vân đẻ trứng dính, mỗi lần đẻ được 200 – 700 trứng/ á cái, cá thường đẻ vào sáng sớm (nhiệt độ nước hạ), cá thích đẻ trứng vào các bụi cây thủy sinh.
+ Mật độ cho đẻ: tối thiểu 80 lít nước cho mỗi cặp bố mẹ.
+ Kỹ thuật cho cá đẻ khá đơn giản. Sau khi đã chọn được cá bố mẹ để tham gia sinh sản ta có thể kích thích sinh sản bằng cách hạ nhiệt độ nước xuống ở mức 25 độ C giữ ổn định. Cá bố mẹ nuôi cách ly trong vòng khoảng 2 ngày, quan sát khi thấy cá cái bắt đầu đẻ trứng mới cho cá đực vào. Do cá bố mẹ có tập tính ăn trứng, vì thế cần tách bố mẹ ngay sau khi cá đẻ xong. Khi cá đẻ, cá trống thường đuổi theo sau cá mái, khi cá đẻ xong sẽ không còn rượt đuổi hay vờn nhau. Thời gian tái phát dục cá tương đối nhanh, sau 2 tuần cá có thể tham gia sinh sản.

– Ở nhiệt độ bình thường (28 – 30 o C) trứng sẽ nở. Cần loại bỏ trứng hư (trứng có màu trắng đục) để tránh ô nhiễm nước.

II. Kỹ thuật nuôi
1. Xây dựng hệ thống bể nuôi
– Hệ thống bể nuôi Cá Tứ vân phổ biến là bể xi măng: xây tường gạch, tráng xi măng bên trong và nền đáy. Bể phải được lót bạt

– Quy cách bể thường dựa vào quy cách bạt lót, vì bạt có khổ rộng 4 m, để có thể sử dụng vừa và tận dụng hết khổ của bạt thì bể nên có ít nhất một chiều (dài hoặc rộng) có độ dài 2,5 m, chiều còn lại: 2 – 5 m, chiều cao: 0,6 m.

– Hệ thống các bể nuôi được che nắng, mưa bằng lưới. Giàn lưới che cao khoảng 1, 8 – 2 m.

– Ngoài bể nuôi, bạt lót, lưới che, cần trang bị hệ thống ống để cấp, thoát nước, máy bơm nước, máy sục khí (mỗi bể nuôi chỉ sử dung một vòi) và các vợt để vớt cá.

2. Xử lý nước
– Nước sông: nước sông dùng nuôi cá phải có độ pH > 6, không bị ô nhiễm. Ở những vùng bị ô nhiễm cần chọn lúc nước tương đối sạch, thời điểm thủy triều lên đến đỉnh (không phải triều cường). Khi đó, chỉ cần bơm nước vào hồ chứa và để lắng 3 ngày là có thể sử dụng. Nếu cơ sở nuôi không có bể chứa, có thể sử dụng bể nuôi để chứa nước sau 3 ngày thì thả cá vào nuôi hoặc bơm cấp cho bể nuôi khác cần thay nước.

– Nước giếng: nước giếng sử dụng cho nuôi cá phải có độ pH > 5. Trước khi sử dụng, nước giếng cần được lắng kết hợp sục khí ít nhất 2 – 3 ngày để cải thiện độ pH và nồng độ oxy hòa tan.

3. Thả giống
– Nuôi cá Tứ vân thương phẩm có thể bắt đầu thả nuôi từ cá bột 3 ngày tuổi, khi cá có thể sử dụng tốt thức ăn bên ngoài (biết bắt mồi).

– Thả giống vào lúc 9 – 10 giờ sáng, khí hậu ấm áp. Cũng như thường lệ, cần cân bằng nhiệt độ bằng cách ngâm bao cá giống vào bể nuôi ít nhất 20 phút trước khi thả cá ra bể.

– Mật độ nuôi (có sục khí nhẹ, 10 – 12 giờ/ngày đêm):

+ Giai đoạn: cá bột – 1 tháng tuổi: 500 – 600 con/m2.
+ Giai đoạn: 1 – 2 tháng tuổi: 250 – 300 con/m2.
+ Giai đoạn cuối: 2 – 3,5 tháng: 100 – 150 con/m2.

– Thực tế có 2 cách điều tiết mật độ nuôi như sau:
+ Cách 1: Thả cá bột với mật độ 100 – 150 con/m2 nuôi đến khi thu hoạch. Cách này tốn nhiều bể nhưng tiết kiệm được công lao động.
+ Cách 2: Thả cá bột với mật độ 500 – 600 con/m2. Sau đó cứ 1 tháng nuôi sang cá ra để giảm mật độ còn 1 nữa (1/2). Trong 3 – 3,5 tháng nuôi phải sang cá ra 2 lần. Cách này tiết kiệm được bể nuôi nhưng tốn công lao động nhiều hơn.

4. Quản lý và chăm sóc
4.1. Cho ăn
– Loại thức ăn và liều lượng:
+ 1 tuần đầu sau khi thả: cho cá ăn bo bo, liều lượng: 1/4 – 1/2 lon (50 – 70 g) cho 1000 cá bột.
+ Từ tuần thứ hai – 2 tháng tuổi: cho cá ăn trùn chỉ, liều lượng: 1/2 lon (100 – 150 g/ngày/10.000 cá.
+ Tháng thứ 3 trở đi: cá tiếp tục ăn trùn chỉ, liều lượng: 2/3 lon (150 – 200g)/ngày/10.000 cá.

– Cách cho ăn và quản lý thức ăn:
+ Để thức ăn trong đĩa sành có đường kính 20 – 30 cm, đĩa được đặt ở đáy bể hoặc treo gần đáy, đặt 2 – 4 đĩa/bể.
+ Cho cá ăn vào buổi sáng (09 giờ), phải vớt thức ăn thừa vào 14 giờ hàng ngày, không cho cá ăn sau 14 giờ.

4.2. Thay nước
Nhịp độ và tỉ lệ nước thay tuỳ vào điều kiện thời tiết:
– Nhiệt độ trung bình của nước trong ngày > 26 độ C: có thể thay nước 1lần/tuần, mỗi lần thay từ 70 – 100 %

– Nhiệt độ trung bình của nước trong ngày < 26 độ C: hạn chế thay nước: 2 – 3 lần/tháng, mỗi lần thay 50 % – 70 %. Nguồn nước thay phải được chuẩn bị sẳn, kiểm tra độ pH trước khi cấp vào bể nuôi.

5. Phòng trị bệnh
– Bệnh mốc mình:
+ Nguyên nhân: do nấm ký sinh.
+ Triệu chứng giống như nấm thủy mi, tuy nhiên chưa có kết quả nghiên cứu chính thức để định danh loại nấm ký sinh này trên Cá Tứ vân. Cá bệnh có những đốm trắng trên mình, bơi lội khó khăn, nước nuôi có màu trắng đục.
+ Điều trị: tắm cá với muối (muối NaCL dạng tinh thể lớn chưa qua chế biến), nồng độ 10 ppt, tức 10 g muối/ 1lít nước, thời gian tắm: 30 – 40 phút. Hoặc tắm cá với Algacid, 1ml/100 lít nước, thời gian tắm 30 phút, tắm 1lần/ngày, có thể xử lý 1 – 3 lần cho mỗi đợt điều trị.

– Bệnh lỡ loét: Giống như nhiều loài cá khác, bệnh lỡ loét trên cá Tứ vân là kết quả tiếp theo của bệnh nấm ký sinh chưa được điều trị. Tức khi cá bị nấm ký sinh, tạo cơ hội (mở vết thương ngoài da, sức đề kháng cá yếu đi) cho sự xâm nhập tiếp theo của vi khuẩn và gây lỡ loét.

– Việc điều trị chỉ có hiệu quả khi bệnh được phát hiện sớm: cá mới bị nấm ký sinh và tỉ lệ cảm nhiểm càng ít càng tốt. Đến giai đoạn cá bị lỡ loét thì việc điều trị không hiệu quả, hay cá chỉ bị nấm ký sinh nhưng tỉ lệ cảm nhiễm cao (> 50 cá bị nhiễm) thì hiệu quả điều trị cũng hạn chế. Có thể sử dụng Abocin để ngâm cá bệnh, liều lượng: 1g/40 lít nước, thời gian ngâm: 24 – 48 giờ hoặc tăng liều lượng gấp 2 – 3 lần để tắm cá trong 40 phút. Có thể tắm hoặc ngâm cá 3 – 5 lần liên tục cho mỗi đợt điều trị.

– Một số lưu ý:
+ Bệnh chỉ được điều trị hiệu quả ở giai đoạn sớm.
+ Sau mỗi lần xử lý cá bệnh (tắm) cần kết hợp với sát trùng bể bằng Chlorine 30 ppm hay một số hóa chất sát trùng khác trên thị trường.
+ Cần cách ly cá bệnh, bể cá bệnh với các cá khác, bể khác bằng cách sử dụng dụng cụ (thau, vợt, ống cấp thoát nước) riêng biệt.
Kỹ thuật nuôi trồng
Copyright © 2013 Kỹ thuật nuôi trồng Design by Tuyết Minh